Đợt thi lần thứ hai kết thúc và đến thời điểm các trường ĐH công bố kết quả tuyển sinh, liệu còn có những thí sinh tìm đến cái chết vì... thi ĐH nữa hay không? Nhân việc Bộ GDĐT quyết định dừng đề án Đổi mới thi tốt nghiệp và tuyển sinh ĐH-CĐ, bạn đọc Nguyễn Anh Minh gửi "hiến kế" để đề án tiếp tục được hoàn chỉnh, được sự đồng thuận của xã hội.
Tại sao chúng ta lại quá đề cao đến các kỳ thi mà không chú trọng đến phương pháp, chất lượng đào tạo và quá trình học tập.
Chúng ta cũng đã chứng kiến nhiều thập niên qua, với việc tổ chức các kỳ thi nghiêm túc để chọn ra những thi sinh có lực học khá - giỏi phân bổ chỉ tiêu cho các trường ĐH, CĐ... Ấy vậy mà kết quả đào tạo ra những cử nhân, kỹ sư... chưa đáp ứng được các chỉ tiêu của nhà tuyển dụng, hầu hết sau khi được tuyển dụng phải qua đào tạo lại.
Ở VN ta cứ thi đỗ vào các trường ĐH, CĐ... coi như xong và cứ thế dù học gì, học thế nào cũng được tốt nghiệp ra trường. Cần phải hiểu rằng, kiến thức văn hoá khác với kiến thức chuyên ngành.
Thực tế có những SV học hai năm cơ bản kết quả học tập rất khá vì đó là những kiến thức toán, lý, hoá nâng cao hơn so với chương trình phổ thông, nhưng khi sang học phần cơ sở và chuyên ngành thì tư duy lại kém.
Nếu những SV này vào học ở các trường đào tạo lý thuyết cơ bản như trường ĐH sư phạm, ĐH quốc gia chuyên ngành toán, lý, hoá, văn, sử... để tạo ra những nhà toán học, hoá học, lý học, văn học, sử học... phục vụ cho cho nghiên cứu lý thuyết cơ bản ứng dụng hoặc làm giáo viên thì rất tốt.
Ngược lại, có những sinh viên học các môn cơ bản chỉ trung bình, nhưng khi sang giai đoạn học các môn cơ sở và chuyên ngành có tư duy rất khá,... có những người cả quá trình học tập rất bình thường, nhưng khi ra trường làm việc rất tốt, có người giữ những chức vụ quan trọng, trong khi có những sinh viên học khá, nhưng sau khi tốt nghiệp ra trường lại làm việc rất bình thường và thụ động...
Nói như vậy không có nghĩa là phủ nhận kết quả học tập của những học sinh khá - xuất sắc, mà đó là một thực tế để cho mỗi chúng ta phải suy ngẫm nên chú trọng điều gì trong công tác tuyển chọn và đào tạo.
Ở bậc THPT, người ta đã định hướng nghề nghiệp tương lai cho học sinh, nghĩa là học những môn cơ sở có tính chuyên ngành để chuyển tiếp lên ĐH, CĐ... Khi vào các trường ĐH, CĐ, người ta không học lại những môn văn hoá cơ bản, môn cơ sở như ở nước ta mà học ngay chuyên môn của ngành sinh viên theo học, do đó thời gian đào tạo chuyên ngành của họ thường kéo dài từ 4 đến 5 năm, điều đó tạo điều kiện cho việc phổ cập kiến thức chuyên ngành được nhiều hơn, thường thì người ta đào tạo theo ngành hẹp chuyên sâu cho sinh viên mà không đào tạo theo ngành rộng kiểu đa ngành như ở nước ta.
Bởi vậy ở nước họ, sinh viên sau khi tốt nghiệp ra trường là có thể làm tốt được công việc. Còn ở nước ta thì hai năm đầu, sinh viên phải học tiếp hai năm cơ bản toán, lý, hoá cao cấp, một năm cơ sở và một năm chuyên ngành đối với hệ cử nhân và hai năm với hệ kỹ sư, như vậy thời gian học chuyên ngành rất ngắn, điều kiện tiếp cận với thực hành bị hạn chế do thiếu cơ sở vật chất, nên chất lượng sinh viên sau khi tốt nghiệp thấp, thường bỡ ngỡ với công việc, khó đảm nhận các công việc được giao.
Với cách đào tạo này, tuy kiến thức cơ bản đầu vào của học sinh chưa thật cao so với học sinh thi đỗ vào các trường ĐH, CĐ, nhưng khi tốt nghiệp ra trường họ tiếp cận với thực tế nhanh hơn, ít bỡ ngỡ hơn so với các sinh viên tốt nghiệp các trường ĐH, CĐ chính quy do ta đào tạo.
Tại sao chúng ta lại không mạnh dạn thay đổi tư duy, thay đổi cái cũ, cái chưa phù hợp để làm cái mới, cái phù hợp hơn với xu thế chung của thời đại. Để có được những sản phẩm tốt phục vụ cho nhu cầu phát triển đất nước, các cơ sở đào tạo, các nhà tuyển dụng và gia đình cần có sự liên kết và chia sẻ về định hướng nghề nghiệp về kinh phí đào tạo.
Và chúng ta nên biết rằng, sản phẩm của ngành giáo dục và đào tạo là tạo ra những con người có đủ năng lực làm việc thực sự, chứ không phải tạo ra những con người chỉ biết tính toán cộng-trừ-nhân-chia..., bởi chúng ta đã chứng kiến điều đó qua nhiều thập niên.