Từ con số 200 tỉ đồng ban đầu báo chí thông tin đến nay người lãnh trách nhiệm làm bộ phim này chính thức đưa ra tổng dự toán là là 118 tỉ có lẻ.
Những con số dự trù cho thấy những khoản chi lớn nhất luôn dành cho bối cảnh và các kỹ xảo cũng như một số khâu kỹ thuật phải thuê làm ở nước ngoài hoặc cậy chuyên gia ngoại quốc khiến cho mọi thanh khoản phải tính bằng ngoại tệ vào giữa lúc kinh tế đất nước đang khó khăn... Không phải chỉ là tiền bạc mà còn lo chất lượng sản phẩm khiến nhà đầu tư, ở đây là Nhà nước, luôn phải đắn đo chưa dám quyết.
Nhà làm phim khẳng định sự tính toán như vậy là sát giá và cho rằng nó chẳng thấm vào đâu nếu so với việc thiên hạ làm phim. Tôi chưa được đọc kịch bản cũng chưa được biết hết ý đồ dàn dựng của đạo diễn hay thiết kế của hoạ sĩ tạo dựng bối cảnh nhưng cứ nghe thấy chuyện phải sang Trung Quốc mượn bối cảnh cung điện, đạo cụ hay mời chuyên gia để dựng cảnh hoành tráng lại có riêng một đạo diễn lo kỹ xảo chiến tranh thì đâm ra nghĩ ngợi.
Chủ đề của phim xoay quanh việc vị vua đầu triều nhà Lý quyết định dời đô. Đó quả là một sự kiện quan trọng nói lên tầm kinh bang tế thế của người đứng đầu nhà nước ta thuở đó.
Cứ theo sử sách chép lại thì Điện tiền chỉ huy sứ Lý Công Uẩn lên ngôi sau khi vua cuối cùng của nhà Tiền Lê băng hà vào tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009). Chỉ vài tháng sau, mùa Xuân tháng 2 năm Canh Tuất (1010) Ngài đã ban chiếu dời đô và mùa thu tháng 7 Lý Thái Tổ đã xa giá lên đường rồi định đô ở vùng thành Đại La cũ nay đổi tên là Thăng Long.
Lý Thái Tổ ở ngôi tổng cộng được 18 năm, mất năm Mậu thìn (1028) thọ 55 tuổi. Đọc trong chính sử, quả thấy vị vua khởi nghiệp xây dựng Thăng Long đã quan tâm xây đắp kinh đô mới.
Sử chép rằng ngay khi đặt chân lên vùng đất mới nhà vua đã xuống chiếu mở kho phát tiền thuê thợ làm chùa ở phủ Thiên Đức (tên mới ban cho châu Cổ Pháp quê ngài).
Tiếp đó sử liệt kê các cung điện trong cung thành Thăng Long xây cất đều được đặt tên một cách rất bài bản theo một quy hoạch tổng thể như điện Càn Nguyên làm chỗ coi chầu, bên tả có điện Tập Hiền, bên hữu có điện Giảng Vũ, lại mở cửa Phi Long thông với cung Nghênh Xuân, cửa Đan Phượng thông với cửa Uy Viễn... rồi các điện Cao Minh, Long An, Long Thuỵ... lại lập các cửa Đại Hưng, cửa Diệu Đức, lầu Ngũ Phượng... Riêng chùa chiền thì Vua Lý làm nhiều.
Chép đến đoạn này, sử thần đời sau là Lê Văn Hưu bằng con mắt của nho gia đã hết lời phê phán vị vua khai triều Lý là "tiêu phí sức dân về việc thổ mộc".
Sự phê phán chủ yếu nhằm vào việc chấn hưng Phật giáo thời Lý nhưng cũng phản ảnh một sự thật, cũng là một sắc thái của lịch sử nước ta là một quốc gia không giàu, sự phân hoá xã hội không cao và các triều đại quân chủ có tiềm lực kinh tế không lớn.
Nói đơn giản là các triều đại Việt Nam do đặc điểm xã hội là chưa khi nào tạo ra một thế lực sở hữu lớn (quý tộc, đại địa chủ...) nên khó có tiềm lực làm nên những công trình lớn như ở bên Trung Hoa khổng lồ hoặc so ngay với cả nước Campuchia láng giềng không lớn.
Ở Việt Nam mọi tiềm lực văn hoá cũng như sức mạnh dân tộc tiềm tàng trong các làng xã, công trình hoành tráng nhất cũng bắt nguồn từ sức mạnh làng xã là hệ thống đê điều. Không thể tìm thấy ở Việt Nam một Vạn lý trường thành hay một Angkor Vat. Như thế cũng có nghĩa là vào thời điểm của Lý Thái Tổ ở ngôi thì cảnh quan Thăng Long hay cung cấm của triều đình hẳn cũng mới chỉ bắt đầu xây dựng khó mà hoành tráng với cung điện nguy nga.
Cung điện của Trung Hoa, chỉ nói đến quy mô chứ chưa nói đến thẩm mỹ và những bản sắc văn hoá, khó có thể là bối cảnh cho cung điện triều Lý ở buổi đầu khởi nghiệp. Sử chép, tháng 7 năm Canh Tuất, đức Lý Công Uẩn rời đô thì tháng 12 năm đó cung Thuý Hoa (chỗ ở của cung nữ) đã làm lễ khánh thành... rồi chỉ vài năm sau (1012) đã phải sửa chữa lại hai điện Long An và Long Thuỵ (là nơi vua nghỉ ngơi). Điều đó cho thấy phần nào diện mạo, quy mô của các công trình xây dựng hẳn cũng sơ sài cho dù tên gọi chép trong sử sách thì cũng chẳng thua kém gì ai.
Nhìn lại di sản kiến trúc nước nhà, những cái tiêu biểu nhất đều khiêm nhường về quy mô và tuy chịu ảnh hưởng nhưng luôn có ý thức tạo ra sự khác biệt với phương Bắc. Thành nhà Hồ có lẽ là một ngoại lệ về quy mô nhưng cũng là bằng chứng về sự vô dụng của nó vì không phù hợp với những bản sắc của dân tộc ta. Có bao giờ ông cha ta cố thủ trong thành mà thắng được giặc?
Lại nhớ đến cuộc tranh luận của giới bảo tồn quanh việc tôn tạo lăng mộ của đức Lê Thái Tổ ở Lam Kinh. Di tích gốc cho thấy sự khiêm nhường của một vị vua đã từng được tôn làm "tổ trung hưng" của dân tộc thời Lê sơ. Hậu duệ đời nay thì muốn tôn tạo cho thật hoành tráng uy nghi để tỏ lòng trung hiếu. Nhưng cũng có người cho rằng làm vậy là đánh mất đi cái tính cách của một vị vua sáng và cũng là đánh mất một bài học lịch sử quý giá về phẩm chất của một anh hùng cứu nước.
Và cũng với một cách nhìn như vậy, nếu bàn đến những cảnh chiến tranh sẽ được dựng trong bộ phim này thì cũng không thể vượt qua cái khung cảnh lịch sử của nó chỉ diễn ra các cuộc hành quân dẹp bỏ các thế lực cát cứ hay chống đối ở một số địa phương mà thôi. Những cuộc tảo thanh ấy có đáng sử dụng những thủ pháp hoành tráng hoá để tôn vinh vị vua mà được chính sử đánh giá là "ứng mệnh trời, mở lòng người... khoan thứ nhân từ, tinh tế hoà nhã có lượng đế vương" hay không?
Khó bàn đến chuyện kinh phí thế nào là vừa, nhưng hình như cái gì hoành tráng trong lịch sử thì không phải là Việt Nam?