Tại đây, nhiều hiệu trưởng đã bày tỏ sự băn khoăn của mình trước những mục tiêu dự thảo chiến lược đặt ra đối với giáo dục ĐH, cũng như đề xuất những giải pháp, tiêu chí để hoàn thiện bản dự thảo chiến lược.
Bộ giải thích các mục tiêu giáo dục ĐH
Bà Trần Thị Hà - Vụ trưởng Vụ Giáo dục đại học (Bộ GDĐT) - đã nhận xét, đồng thời giải thích cơ sở khoa học của các mục tiêu, chỉ số đối với giáo dục ĐH được đưa ra trong dự thảo chiến lược. Theo bà Hà, các mục tiêu đưa ra trong dự thảo mới đề cập đến đối tượng học, chưa đề cập đến các trường ĐH và hệ thống giáo dục ĐH.
Với mục tiêu 450 SV/1 vạn dân vào năm 2020 - một con số mà nhiều người cho là "lãng mạn" - bà Hà giải thích con số này không phải vô cớ mà đặt ra. Trên thế giới, nếu một quốc gia có dưới 15% người trong độ tuổi 18 - 22 học ĐH, CĐ sẽ tương ứng với nền kinh tế nông nghiệp, tỉ lệ 15 - 50% là nền kinh tế công nghiệp và trên 50% là nền kinh tế tri thức.
"Chúng ta phấn đấu nằm trong mức 2, căn cứ vào sự phát triển dân số, khả năng thích ứng của nền kinh tế. Năm 2020, dự kiến dân số VN là khoảng 100 triệu người, trong đó số lượng người từ 18 - 22 tuổi khoảng 15 triệu. 4,5 triệu sinh viên tức là bằng khoảng 30 - 35% của số người từ 18 - 22 tuổi". Các giải pháp đưa ra để đạt chỉ tiêu này là việc chuẩn bị đội ngũ giáo viên với đề án 20 nghìn tiến sĩ; xây dựng trở lại đúng hình dạng, nguyên lý của 2 ĐH mở; giáo trình, tài liệu điện tử...
Cũng theo bà Hà, tiêu chí 15 nghìn SV nước ngoài theo học tại VN cũng có khả năng thực hiện được, vì đang triển khai 23 chương trình tiên tiến. Kể cả tiêu chí 80% số SV tốt nghiệp được sử dụng cũng là tiêu chí có thể thực hiện được. Lý do là bộ đã xây dựng đề án đào tạo theo nhu cầu xã hội, đã tổ chức các hội thảo quốc gia về vấn đề này, các đối tượng đã thấy được nhu cầu cần thiết của vấn đề này.
Bên cạnh đó, bộ đã yêu cầu các trường có kênh theo dõi tình hình việc làm sau khi ra trường của SV và phải có báo cáo định kỳ về bộ. Con số này cũng phải được nhà trường công khai đối với xã hội...
Trường bảo không
Mặc dù đã có sự trình bày và giải thích của Viện Chiến lược và Chương trình giáo dục, nhưng lãnh đạo nhiều trường ĐH vẫn bày tỏ sự băn khoăn đối với các mục tiêu, tiêu chí cũng như giải pháp thực hiện chiến lược phát triển đối với giáo dục ĐH nói riêng và đối với giáo dục nói chung.
Theo ông Đỗ Văn Xê - Phó Hiệu trưởng Trường ĐH Cần Thơ, giải pháp đột phá "đổi mới quản lý giáo dục" chưa phải là đột phá. "Bộ GDĐT phải quản lý tất cả các vấn đề về con người, vì vậy phải quản tất cả các trường của các bộ, ngành khác kể cả công an, quân đội và 2 trường ĐH quốc gia. Bộ GDĐT đưa ra giải pháp giao quyền tự chủ lại cho các trường, nhưng hiện nay chính bộ còn chưa tự chủ được. Bộ phải được giao quyền quyết định các vấn đề quan trọng của ngành thì mới phát triển được".
Ông Đặng Văn Uy - Hiệu trưởng Trường ĐH Hàng hải - cho rằng, một số tiêu chí cần phải suy nghĩ, như giáo dục nghề nghiệp có mục tiêu đến năm 2020 có trên 95% số HS tốt nghiệp được các DN và cơ quan sử dụng lao động đánh giá đáp ứng được yêu cầu của công việc, trong khi con số này ở giáo dục ĐH chỉ là 80%. "Như vậy, có phải chất lượng đào tạo ĐH kém hơn?".
Ông Uy cũng đề nghị, phải làm rõ những mục tiêu nào trong giáo dục ĐH không chỉ dừng ở năm 2020, mà còn tiếp tục các năm sau nữa? Các tiêu chí phân luồng như thế nào, cũng như việc công nhận bằng cấp trong khu vực ASEAN khi Hiến chương ASEAN đã được ký kết?
Là hiệu trưởng một trường ngoài công lập, ông Trần Hữu Nghị - Hiệu trưởng Trường ĐHDL Hải Phòng - lại e ngại về mục tiêu 30% số giảng viên ĐH đạt trình độ tiến sĩ. Theo ông Nghị, mục tiêu này đặt ra rất phù hợp với các trường công lập, nhưng đối với các trường ngoài công lập thì phải có quyết tâm mạnh và có đầu tư thoả đáng thì mới làm được. Tuy nhiên, cũng có ý kiến thắc mắc rằng, "mục tiêu trung bình của cả nước chỉ là 30% số giảng viên ĐH đạt trình độ tiến sĩ thì có xứng đáng không, khi đất nước đòi hỏi ngành giáo dục phải có những bước đột phá?".
|
Bà Bùi Trân Phượng - Hiệu trưởng Trường ĐH Hoa Sen: Ngoài những yếu kém cụ thể của ngành giáo dục như dự thảo đã nêu, còn có yếu kém nữa mà mọi người đều cảm nhận thấy nhưng chưa được thể hiện rõ ràng. Đó là trong khi phương pháp giáo dục, chuẩn mực giáo dục cũ đã dần mai một, thì chuẩn mực mới chưa được xác lập, phát huy.
Có những cái thiếu và yếu rõ ràng, như cơ sở vật chất hay đội ngũ giáo viên. Nhưng cũng có những cái thiếu và yếu như chuẩn mực khoa học, trình độ chuyên môn, năng lực, đạo lý thầy trò... ngành giáo dục cần dũng cảm, thẳng thắn thừa nhận và đề ra được những giải pháp xứng tầm. |