 |
|
Thượng uý Nguyễn Xuân Thuyết đang uốn nắn từng nét chữ ở lớp học bản Cuôi, xã Hướng Lập, Hướng Hoá, Quảng Trị. |
(LĐ) - Bản Cuôi nằm ở đại ngàn rừng Trường Sơn, thuộc xã Hướng Lập, huyện Hướng Hoá (Quảng Trị), được mệnh danh là bản "6 không": Không chợ, không đường giao thông, không điện thắp sáng, không trường học, không y tế, không thông tin liên lạc...
Những nhu cầu tối thiểu nhất của con người hầu như còn ở rất xa với bản Cuôi, bà con sống tự cung tự cấp là chủ yếu. Trước tình hình đó, bộ đội biên phòng đồn Cù Bai đã hành quân vào bản "cắm" chốt, mở lớp dạy học. Lớp học ở giữa bản "6 không" rất kỳ lạ: Không chạy theo thành tích, chỉ theo lương tâm của người lính...
Tôi gặp hai thầy giáo mang quân hàm xanh, thượng uý Nguyễn Xuân Thuyết và thiếu uý Nguyễn Hữu Cường, bên quán nhỏ đường nhánh Tây Trường Sơn. Cả hai anh đều khoe: "Lâu lắm rồi mới ra "thành phố" nghỉ giải lao".
Đi dạo "thành phố" mà chân, tay của hai thầy bị tước vết dài chảy nhiều máu và sưng bầm tím nhiều chỗ, do phải đi qua những đoạn đường cực kỳ nguy hiểm, để về "thành phố" là đồn biên phòng Cù Bai nằm trên đỉnh Trường Sơn, họp chi bộ, họp đơn vị và nhận lương thực, thực phẩm gùi vào ăn hàng ngày. "Phố đồn" tráng lệ hơn bản Cuôi là có điện sáng, có đường giao thông, có tivi. Thuyết đảm trách dạy lớp 1 có 30 học sinh, Cường dạy xoá mù chữ ban đêm có 14 học viên.
Một ngày chỉ "nghiền nát" 2 chữ cái
Ở thị xã, thành phố giữa hè, cha mẹ học sinh lo chạy ngược chạy xuôi lo cho con mình vào bằng được trường chuẩn quốc gia, trường điểm. Còn ở bản Cuôi cha mẹ không đủ sức quan tâm đến chuyện học của con, mà có cũng lực bất tòng tâm. Chỉ có mấy anh cán bộ biên phòng mới lo toan mọi thứ: Đi vận động từng gia đình, từng người, từng em nhỏ ra lớp học, rồi lo kiếm tiền mua cặp sách, mua áo quần, sách vở cho các em.
Đến lớp để học đã khó, nhưng giữ các em ngồi học lâu dài là điều vô cùng nan giải. "Mới đầu các em vào lớp - ra lớp là tuỳ thích. Chẳng phải xin thầy gì hết. Học ở lớp em thì đứng, em thì nằm, em thì kêu la giống như đi chăn trâu ngoài suối vậy" - thượng uý Thuyết, nhớ lại buổi khai lớp của học sinh bản Cuôi đầy khó khăn. Khái niệm kỷ luật lớp học hầu như chưa có ở trong nếp nghĩ các em, thầy giáo cứ kiên trì dạy các em về tính kỷ luật lớp học, lễ phép với người lớn, với bạn bè trong lớp. Sau đó mới vào dạy chữ.
Phương châm của các thầy biên phòng đưa ra là "chậm mà chắc", phải đối xử các em như con, cháu của mình để dốc hết tâm lực dạy các em. "Các em có hiểu bài mới ham học. Do vậy, kế hoạch của chúng tôi đưa ra, mỗi ngày chỉ dạy 2 chữ cái" - Thuyết nêu cách dạy học ở giữa rừng đại ngàn.
"Học vậy thì biết khi nào kịp chương trình và thời gian của Bộ Giáo dục - Đào tạo đưa ra?" - tôi hỏi. Anh lý giải: "Nếu dạy giống như dưới đồng bằng, chỉ sau một tuần sẽ không còn em nào ngồi lại học. Vì tiếng Kinh các em còn chưa biết thì làm sao mà dạy ào ào được? Chúng tôi phải dạy các em từng nét chữ, đánh vần từng chữ cái, phát âm theo đúng âm của nó. Mình phải uốn lưỡi, uốn miệng cả ngày để các em làm theo cho đúng. Vậy cũng chưa xong đâu, thầy giáo phải cầm theo dụng cụ để minh họa cho từng chữ cái". Cả ngày "nghiền nát" 2 chữ cái trên lớp, nhưng tối về thầy giáo lại đến từng nhà để kiểm tra và tiếp tục "nhào nặn" cho thật lưu loát từng con chữ. Sáng hôm sau, thầy giáo dành nửa buổi sáng để kiểm tra bài cũ, 100% học sinh được kiểm tra. "Phải kiểm tra, phải rèn dần, phải tập cho các em có thói quen chịu khó học tập. Thầy không lơ là khâu nào hết. Lơ là là hỏng hết mọi chuyện, đẩy các em vào con đường mù chữ" - thượng uý Thuyết bảo.
Học thành thạo bảng chữ cái, thầy chuyển sang ghép chữ, đánh vần, đọc luôn câu. Tất cả các khâu đó đều "tiến công" theo phương án "chậm mà chắc", không kể thời gian, hễ thấy học sinh chịu học, ham học được lúc nào là thầy dạy lúc đó, cả buổi trưa và buổi tối thầy đều ngồi bên cạnh các em. Chính vì kiên trì như vậy, qua 6 tháng học tập, các em đã biết đọc, biết viết thành thạo và không có em nào bỏ học.
"Phải đọc, viết thật nhuyễn đã, đến tháng 9 năm nay mới chuyển sang học làm toán. Học đến đâu là nắm chắc đến đó, giống như đổ bêtông phần móng của nhà cao tầng. Bây giờ em nào cũng rất thích đi học. Đó mới chính là ý nghĩa lớn nhất đối với người lính chúng tôi"- thầy Thuyết, lý lẽ nhưng lòng nặng lo âu.
5 anh em học cùng một lớp
Lớp học chỉ là mái nhà tạm của một người dân cho mượn, không được lành lặn cho lắm, xung quanh, những tấm nứa sơ sài che hở trên, hở dưới. Bàn, nghế các em ngồi học là những tấm gỗ gác tạm. Sách, vở, cặp, áo quần,... đồn biên phòng Cù Bai gom góp lo cho mỗi em một bộ để cố gắng học tập. Lớp học này, đủ các dạng tuổi, có em mới 6 tuổi, nhưng có em 14 tuổi đều cùng học chung một lớp.
 |
| Thượng uý Nguyễn Xuân Thuyết và thiếu uý Nguyễn Hữu Cường đang ngược dòng sông Sê Păng Hiêng đến dạy ở bản Cuôi. | Điều đặc biệt, lớp có 5 anh em ruột cùng học, trong đó 4 em là học sinh chính thức, 1 em mới 2 tuổi. Em Hồ Thị Nang là chị lớn nên vừa học vừa giữ em trong lớp. "Đang dạy học ngon lành, bỗng nhiên em nhỏ ở trong lớp khóc, thầy phải cho lớp tạm dừng để Nang chăm em. Em nhỏ hết khóc, lớp tiếp tục học tiếp. Nếu như thầy làm căng không cho em nhỏ vào lớp, thì Nang và các em của Nang có nguy cơ bỏ học, có nguy cơ suốt cả cuộc đời sẽ bị mù chữ như bố mẹ nó" - thầy giáo Thuyết nói ra từ ruột gan.
Nhiều gia đình cả bố mẹ và con cùng đi học. Con đi học ban ngày, bố mẹ đi học xoá mù chữ ban đêm. Chữ "vào" đầu của học viên lớp xoá mù ban đêm cũng rất nan giải. Do không có điện, lớp học phải dùng đến mấy cây đèn dầu đỏ le lói giữa cánh rừng đêm thanh vắng, một đèn treo trên bảng để thầy viết chữ, phía dưới cứ 2 học viên là một đèn.
"Những người học xoá mù chữ đều là lao động chính ở các gia đình, ngày đi rừng, làm rẫy ê ẩm cả cơ thể. Tối lại phải đi học, dù cố hết sức nhưng chữ "vào" đầu không được bao nhiêu cả. Chúng tôi vừa dạy vừa động viên bà con cố gắng học tập, để đọc - viết thành thạo" - thiếu uý Cường tâm sự.
Người con tốt của dân bản
Bản Cuôi nằm ở thượng nguồn sông Sê Păng Hiêng, chảy ngược sang đất Campuchia. Vào bản Cuôi chỉ một đường độc đạo đi bộ hết 7 giờ, người "thanh cảnh" như tác giả bài viết này thì "ngốn mất" 9 giờ. Đường chỉ là một lối mòn leo lên núi, tụt xuống núi và vượt qua giữa lòng sông đến... 52 lần. Sông thượng nguồn nên có nhiều thác ghềnh, với muôn vàn loại đá ngầm trơn như xàphòng, cạnh sắc như dao. Dù tập trung cao độ để lần từng bước, nhưng vẫn bị ngã liên tục, mang theo thương tích.
Thầy Cường kể lại lần đầu tiên đi trên con đường "tơ lụa" này: "Mình là lính biên giới đã "nếm" đủ các loại địa hình rừng núi, lội suối, vượt sông, nhưng khi đi vào bản Cuôi bị bổ nhào, bổ nghiêng không biết bao nhiêu lần. Vào bản đưa hai chân lên nhìn xem thì giống như bị dao cắt dày đặc. Hai đầu gối bị bong gân sung to vù, nằm liệt mấy ngày mới dậy được". Bây giờ "tay nghề" của thầy Thuyết, thầy Cường có lên "đô", quen với địa hình, nhưng lúc nào đi vào - đi ra vẫn bị bổ nhào, tước chân, tước tay xảy ra như cơm bữa.
Sợ nhất là mùa lạnh, nước sông lạnh giá nhưng các thầy vẫn ngâm mình trong nước từ 7 - 9 giờ, còn đó bao nhiêu mối nguy hiểm chết người khác. Chẳng hạn, đang đi lúi húi dưới sông, lũ ở các khe suối bất thần đổ về sẽ cuốn trôi không biết lúc nào. Gian khổ nhất là từ "phố đồn" trở vào bản, phải đi ngược dòng chảy, trên lưng các thầy phải gùi, cõng bao nhiêu thứ mắm muối, gạo,... để đảm bảo cuộc sống 1 - 2 tháng mùa mưa bị cô lập hoàn toàn trong bản.
Những tháng ngày ở bản Cuôi, hai thầy tự tăng gia sản xuất, tự xoay xở cuộc sống, tự lo cơm cháo. "Bà con dân bản đa phần là nghèo và thiếu ăn thường xuyên, ngày nào nghỉ chúng tôi đi lên rẫy làm giúp. Hễ thấy việc gì giúp được là giúp, không câu nệ công việc gì cả. Chúng tôi muốn là người con tốt của dân bản - Thuyết và Cường đều nói như vậy.
Hải Luận
|