Bà sống lay lắt trong một túp lều xiêu vẹo ở chợ Cấm, xã Nghi Yên (Nghi Lộc - Nghệ An). Căn lều được thưng bằng mấy tấm liếp tạm bợ và chừng vài chục viên gạch vỡ. Thế mà, cả chục năm nay, bà vẫn miệt mài đi nhặt ống kim tiêm do con nghiện vứt lại để tiêu huỷ, tránh cho người khác hiểm hoạ bị phơi nhiễm HIV.
Rồi "lương" của bà, tháng có, tháng không, dẫu chỉ 20 nghìn đồng. Không sao, bà nói: "Tôi là người có đạo, Chúa răn dạy, phải làm điều thiện, không làm điều ác. Bà con ở chợ không kể lương hay giáo đã cưu mang, đùm bọc tôi".
"Trần gian còn một thứ nghề"
Khoảng hơn chục năm về trước, người dân ở chợ Cấm thấy xuất hiện một gia đình cắm lều trong chợ sinh sống. Họ làm nghề bán nước chè xanh. Bốn đứa con nheo nhóc, ba đứa lớn chưa từng một buổi đến trường. Con càng lớn, cuộc sống của họ càng cơ cực. Thế là, thượng vàng hạ cám, ai thuê gì ông bà cũng làm. Từ gánh hàng, chẻ củi, trông lều..., hai ông bà không từ một việc gì.
Cũng những năm ấy, nạn tiêm chích ma tuý bắt đầu xuất hiện. Trời chạng vạng, chợ hết người là chúng nó lại tụ tập để làm "bác sĩ". Lúc đầu, ông bà chẳng hiểu ma tuý ma tiếc gì cả. Có hỏi, có đuổi nhưng chúng nó đã dở giọng côn đồ. Có đứa còn mất dạy hù doạ: "Còn đuổi là bọn tao thiêu luôn cái lều này".
Một buổi sáng tinh mơ, một chị hàng xén chuẩn bị dọn hàng thì hét toáng vì giẫm phải kim tiêm. Kinh hãi quá, chị này phải bỏ chợ đi xét nghiệm. Nghe mọi người nói về ma tuý và tác hại của nó, đặc biệt là căn bệnh thế kỷ HIV, ông bà bàn nhau đi nhặt hết ống kim tiêm. Hai vợ chồng già "vào nghề" đơn giản thế thôi.
Bà Dung móm mém kể về chuyện cô hàng xén giẫm phải kim tiêm mà đôi mắt trở nên long lanh: "Chưa hết buổi chợ chuyện này đã lan đến mấy xã. Có người còn cứ dựng chuyện. Nào là, cô này vừa về đến nhà thì đã thấy chồng viết thư để lại, yêu cầu li dị. Hoặc, chỉ mấy tiếng sau, cô hàng xén ấy đã nhảy sông tự vẫn...".
Tôi thật không may vì đến thăm bà Dung vào ngày chợ Cấm không họp. Giữa những căn lều lúp xúp, tơi tả, nhà bà Dung có vẻ đàng hoàng hơn. Đàng hoàng bởi nó hơn những căn lều ấy hai cánh cửa bằng phên nứa.
Trước mắt tôi, một bà già quặt quẹo, tóc rối như tổ quạ và gương mặt thì không có chỗ nào để chứa nếp nhăn nữa. Bà Dung cà nhắc, bước ra khó nhọc vô cùng. Bà đứng tựa ngay cửa lều, chậm rãi ngáp mấy cái liên tục rồi mới lên tiếng:
- Ai hỏi chi đó?
- Thưa, cháu muốn hỏi bà, gọi bà là bà gì ạ?
- Bà Dung, mọi người gọi thế. Từ khi lấy ông ấy họ gọi thế.
- Nhưng cháu muốn biết tên thật của bà?
- Tôi không còn nhớ nữa.
- Ông bà đến chợ Cấm sinh sống đã lâu chưa?
- Lâu rồi, không nhớ năm nào cả.
- Thưa, bà năm nay bao nhiêu tuổi rồi ạ?
- Có lẽ là bảy mươi, có khi tám mươi rồi cũng nên
Đó là toàn bộ "trích ngang" của bà Dung - người đàn bà không còn nhớ tên mình. Thế nhưng khi hỏi về công việc nhặt ống kim tiêm thì mắt bà lại long lanh. Bà kể: "Từ buổi sáng hôm ấy, ngày nào tôi và ông ấy cũng đi nhặt ống bơm. Vài ba ngày, ông nhà tôi lại đào hố để chôn. Mấy người bán ở chợ thấy thế nên góp tiền cho thêm để mua thức ăn. Ông ấy mất thì tôi làm một mình".
Đoạn bà rạng rỡ như hoài niệm về quãng thời gian hạnh phúc khi còn đôi, còn lứa: "Mà đã quen rồi, 5 giờ sáng là đi cho đến khi có người đến họp chợ thì về nấu nước. Trước chúng tôi vẫn thế. Giờ đi cho đỡ nhớ ông ấy".
Bà hiền từ chỉ tay về phía bãi sông, nơi có mấy đứa trẻ chăn trâu đang nghịch ngợm mà lo âu: "Sợ nhất là mấy đứa ấy giẫm phải kim tiêm. Mình già rồi có chết cũng đành, bọn nhỏ mà giẫm thứ này là nguy lắm".
Dáng bà xiêu vẹo như căn lều được gọi là nhà ấy, nhưng khi kể về "nghề" lại hết sức say sưa: Bà thông báo về số phận những con nghiện mà bà chưa thấy rõ mặt bao giờ. Thằng Dũng "minh", thằng Ca "khều"... chết năm ngoái rồi. Mấy bà ở Diễn Châu, gần nhà nó bảo là bị sốc thuốc. Thằng Hai "phượng hoàng" đang đi cai nghiện...
Rồi như một tuyên truyền viên, bà giải thích về tác hại của ma tuý, về nguy cơ lây nhiễm HIV... Tất cả những thông tin ấy bà tích luỹ được từ mấy cô hàng xén nói chuyện cả ngày. Bà càng say sưa, tôi lại càng thấy vui.
Hai mươi nghìn đồng, vẫn làm
Bà Dung khó nhọc dùng một cánh tay đẩy rộng cánh cửa để mời khách vào nhà. Tôi không dám ngồi lên chiếc giường ọp ẹp vốn là chỗ ngơi nghỉ của bà. Tài sản đáng giá nhất của người đàn bà ấy là bộ ấm nước chè xanh - dụng cụ sinh lời duy nhất để nuôi sống bà.
Như bừng tỉnh, bà kể đứt quãng: "Đúng rồi, quê bà ở Hưng Thuỷ, gần thành phố Vinh...". Còn tại sao ông bà lại tha phương đến đây thì bà đành lắc đầu. Nhưng, bà lại nhớ rất rõ về bổn phận của một tín hữu Kitô giáo: "Tôi cũng răn dạy các con, phải sống có ích, sống tốt đời đẹp đạo, sống phúc âm trong lòng dân tộc".
Ông bà có bốn người con. Chị đầu đi lấy chồng xa lắm, nó cũng nghèo lại đông con nên không giúp được cha mẹ. Hai thằng con trai tiếp theo thì một chữ bẻ đôi cũng chịu. Bây giờ chúng nó đang ở đâu trong miền Nam, lâu rồi không thấy về.
"Chỉ có thằng út là biết chữ. Nó được ngồi tàu bay đi nước ngoài. Nhưng mà tiền thì vợ nó bảo chưa có để gửi về" - bà Dung rất hãnh diện về thằng út.
Từ ngày chọn chợ Cấm làm "bến đậu", nghề bán nước chè đã gắn bó với ông bà. Bữa đực, bữa cái, mỗi ngày cũng kiếm được mươi nghìn, cộng với làm thuê làm mướn, ông bà đã sống qua ngày. Hơn chục năm nay, có thêm "nghề" nhặt ống kim tiêm, xã Nghi Yên trợ cấp cho ông bà mỗi tháng 20 nghìn đồng. Nhưng rồi, cán bộ cũ nghỉ, cán bộ mới thay, có tháng họ quên mất. Mà bà thì chẳng biết uỷ ban xã ở đâu mà đi xin, thế là thôi.
Từ khi ông mất, cuộc sống của bà Dung chủ yếu là nhờ bà con góp tiền trả công coi sóc lều bạt cho họ. Bà hơi rầu rĩ: "Con cái đứa nào cũng nghèo, chúng nó chẳng giúp gì được. Không muốn làm tội con cháu, mình thì coi như đã qua, mong cho chúng nó bớt khổ, bớt cực". Lời tâm sự của bà làm tôi chạnh nhớ câu thơ của Nguyễn Duy: "Ta đi suốt cả cuộc đời/ Vẫn không đi hết một lời mẹ ru".
Bà Dung chống gối, cà nhắc đến bên góc giường để trưng ra "kho tàng" ống kim tiêm qua hai ngày nhặt nhạnh. "Chú không sờ vào đây được đâu, nguy hiểm lắm. Có cái còn dính đầy máu tươi " - bà đẩy tay tôi ra. Tôi đứng lặng yên mà hình dung tấm lưng còm cõi của bà chẳng khác nào một dấu hỏi cuộc đời. Một cánh tay khoèo, một bàn chân tật, thế mà bà vẫn không nỡ phiền hà đến con cái. Lại đi nhận làm cái nghề có một không hai trên thế gian này.
Bà nhẹ nhàng dốc chiếc túi nilon mà thường ngày vẫn dùng để đựng ống tiêm. Chừng gần mươi ống bơm tiêm là "thành quả" của hai buổi sáng bà phải lê chân, căng mắt khắp cả chợ. Có ống đã bể, có ống còn cả kim và có ống đang dính đầy máu. Thú thật, tôi nổi hết da già khi phải nhìn cái thứ mà lẽ ra không đáng để nhìn ấy. Còn bà Dung thì như một y sĩ, vô tư lượm lặt, vô tư chôn cất.
Vừa như phân loại ống bơm, bà vừa giải thích: "Thứ này là nó chích lâu rồi, thứ này là mới sáng nay. Hồi mới đi nhặt, có bữa hai chúng tôi gom được chừng vài chục cái. Cứ ba ngày thì tôi lại đào hố để chôn. Mà chôn cái này mình phải tìm gạch để phủ lên không thì mưa gió lại có người giẫm phải".
Bà không sợ bị nhiễm bệnh à - tôi hỏi? "Nhặt lâu thành quen, ống nào cũ thì không sao, gặp phải ống tiêm còn máu tươi thì lấy lá chuối quấn tay mà nhặt. Tôi có kinh nghiệm rồi, đừng bao giờ cầm phía có kim, thế là không sao" - bà lại móm mém cười.
Chào bà Dung, tôi biếu bà một trăm nghìn đồng, gọi là "trả công" cho bà cũng được (bà xứng đáng được trả công). Bà cứ mân mê tờ giấy bạc mà miệng không ngớt: "Cảm ơn chú. Răng mà cho bà nhiều ri. Một trăm nghìn, bằng 5 tháng lương của bà rồi".
Xe tôi chạy đã xa, dáng bà Dung vẫn xiêu vẹo trông theo trong quang cảnh đìu hiu của buổi trưa chợ vắng. Ngày mai, 5 giờ sáng, bà lại bắt đầu công việc thầm lặng của mình - nhặt ống kim tiêm.