Thế chiến thứ Hai bùng nổ, Arthur Clarke được gọi vào phục vụ trong không lực Hoàng gia Anh (1941-1946), và kết thúc cuộc chiến được Chính phủ Anh cấp học bổng vào trường đại học, khoa Toán-Lý.
Ngay từ trong trường phổ thông, Arthur đã gia nhập Hội Xuyên hành tinh cổ vũ cho công cuộc tìm đường lên vũ trụ và nuôi mộng trở thành nhà văn, nhưng phải mươi năm sau mới thấy tác phẩm đầu tay của Arthur Clarke Đội cứu hộ (Rescue Party, 5.1946) được công bố như một truyện khoa học viễn tưởng.
Trong thập niên 1950, Arthur Clarke viết được 8 pho tiểu thuyết Khúc dạo vào vũ trụ (Prelude to Space, 1951); Cát trên sao Hoả (Sands of Mars, 1951); Những hòn đảo trên trời (Islands in the Sky, 1952); Kết thúc thời thơ ấu (Childhood's End, 1953); Chống lại màn đêm (Against the Fall of Night, 1953); Độ sâu lớn (The Deep Range, 1954); Ánh sáng quả đất (Earthlight, 1955); Thành phố và những vì sao (The City and the Stars, 1956) - kết quả này giúp ông sống được, không phải kiếm tìm kế mưu sinh nào khác, nhưng rồi lại vì nể bạn mà làm nghề tay trái - phim khoa học viễn tưởng.
Vốn là, năm 1964, nhân một chuyến thăm nước Mỹ, Arthur Clarke gặp Stanley Kubrik. Nhà đạo diễn đề nghị nhà văn hợp tác một dự án: viết kịch bản để ông làm phim, và chuyển thành một cuốn tiểu thuyết để đồng thời phát hành cả phim cả sách.
Năm 1968, 2001: Phiêu du trong vũ trụ đã trở thành tác phẩm để đời cả trong hai lĩnh vực điện ảnh và văn chương. 2001, Phiêu du trong vũ trụ sau đó được phát triển thêm 3 tập nữa để thành trọn bộ bốn tập Phiêu du...
Năm 1972, một bộ tiểu thuyết nữa, Gặp gỡ với Rama (Rendez-Vous with Rama) được Clarke tung ra, gây chấn động dư luận! Sau đó nhà văn cùng đồng tác giả Gentry Lee cho ra đời ba tập nữa làm nên bộ tiểu thuyết bốn tập nổi tiếng về Rama.
Những năm cuối đời, Arthur Clarke cộng tác với Stephen Baxter hoàn thành bộ tiểu thuyết ba tập về thời gian: Phiêu du trong thời gian với Con mắt thời gian (Time's Eye, 2003); Bão mặt trời (Sunstorm, 2005) và Sinh hạ lần đầu tiên (Firstborn, 2007).
Trong số cả trăm tác phẩm văn học của ông còn những tiểu thuyết một tập nổi tiếng như: Kết thúc thời thơ ấu (Childhood's End, 1953); Thành phố và những vì sao (The City and the Stars, 1956); Bụi mặt trăng (A Fall of Moondust, 1961); Hòn đảo của loài cá heo (Dolphin Island, 1963); Đất đế vương (Imperial Earth, 1975); Những đài phun nước trên thiên đường (The Fountains of Paradise, 1979); Những bài ca của miền đất xa xôi (The Songs of Distant Earth, 1986); Chiếc nôi (Cradle, viết chung với Gentry Lee, 1988); Bóng ma của những nét vạch vĩ đại (The Ghost From the Grand Banks, 1990); Ở phía bên kia của đêm tối (Beyond the Fall of Night, 1990); Chiếc búa của tạo hoá (The Hammer of God, 1993); Cấp độ 10 Richter (Richter 10, 1996); AÁnh xạ những ngày khác (The Light of Other Days, 2000), v.v...
Arthur Clarke chính là người sáng lập Hội Những người yêu thích truyện khoa học viễn tưởng Anh (Fandom) và được đánh giá là nhà tiên tri, là người cổ suý cho kỷ nguyên vũ trụ.
Năm 1945, Arthur Clarke công bố một bài báo thuần tuý khoa học với những sơ đồ mạch lạc thuyết minh khả năng tổ chức hệ thống liên lạc toàn cầu thông qua vệ tinh viễn thông. Đến nay, việc phóng vệ tinh phục vụ dự báo thời tiết và vệ tinh viễn thông lên quỹ đạo đã trở thành hiện thực. Để ghi ơn nhà tiên tri, Hiệp hội Thiên văn quốc tế quyết định lấy tên Clarke đặt cho quỹ đạo của những vệ tinh như thế.
Trong tác phẩm viết về Sri Lanka Những vỉa đá ngầm của Taprobane (The Reefs of Taprobane,1957), nhà văn đã từng mô tả "một cơn sóng thần đang tràn vào cảng Galle". 47 năm sau, quả nhiên thành phố Galle đã bị điêu đứng bởi thảm họa sóng thần hôm 26.12.2004.
Bây giờ thì nhân loại đã có: thư viện toàn cầu có tên là Internet, sự phát triển của ngành năng lượng nguyên tử và ngành tự động hoá, bước tiến bộ của thuốc kháng sinh và máy tính IBM, những công trình về trí tuệ nhân tạo, máy phiên dịch, việc đưa con người lên mặt trăng (chỉ sai ít nhiều về thời điểm), và thậm chí cả việc nhân bản con người. Đến thời điểm hiện nay, tiên báo của Arthur Clarke về sự kiện con người lên sao Hoả cũng trùng hợp với kế hoạch của Hoa Kỳ.
Sang định cư tại Sri Lanka từ thập niên 50, phần lớn cuộc đời, thời gian của Arthur Clarke được chia đều cho những hứng thú: viết sách, bơi lặn đáy biển, và tham gia xây dựng chương trình truyền hình về những huyền thoại của thời hiện đại.
13 tập phim truyền hình Thế giới bí ẩn của Arthur Clarke (Arthure C.Clarke's Mysterious World, 1981) và Thế giới siêu nhiên của Arthure C. Clarke (Arthure C.Clarke's World of strange Powers, 1984) được phát sóng ở rất nhiều nước. Nhà văn cũng đã chuẩn bị xong một số chương trình về vũ trụ trong bộ phim Vũ trụ của Walter Cronkite (Walter Cronkite's Universe, 1981).
Từ năm 1943, Arthur Clarke đã tiên đoán sự xuất hiện của sóng radar phát hiện tên lửa và máy bay, thậm chí còn được trực tiếp tham gia thiết kế chế tạo và thử nghiệm giàn radar đầu tiên giúp phi công định hướng trong thời tiết xấu...
Arthur Clarke chính là người đích thân cùng với bình luận viên Walter Cronkite và nhà thiên văn học Walter Schirra tham gia thực hiện phóng sự truyền hình trực tiếp về những chuyến phóng Apollo-11, Apollo-12, Apollo-15 lên mặt trăng.
Là nhà văn cùng với Isaac Asimov (1920-1992) và Robert Anson Heinlein (1907-1988) hợp thành "Tam hoàng tiểu thuyết khoa học viễn tưởng", Arthur Clarke đã thanh thản ra đi lúc rạng ngày 19.3.2008 tại một bệnh viện ở Colombo, thủ đô Sri Lanka - nơi ông định cư và nhận quốc tịch từ năm 1956.