Vào mùa khô, bà con phố thị phải vét từng giọt nước cuối cùng đọng lại ở các khe suối về dùng. Đúng lúc đó, anh Nguyễn Hiệp Cường - công nhân Nhà máy chè Bãi Trành đã vay mượn tiền để xây dựng công trình cấp nước sạch bán cho dân. Từ bước khởi đầu đầy gian khó đến nay Cường đã xây dựng được một công trình cấp nước tương đối hoàn chỉnh phục vụ cho 300 hộ dân ở thị trấn vùng cao này.
Hy sinh lợi ích riêng vì tập thể
Khoảng 10 năm về trước, khu vực thị trấn Bãi Trành có khoảng 1.200 hộ dân, chủ yếu là công nhân Nhà máy chè Bãi Trành sinh sống. Vùng đất nằm ở địa thế cao hàng trăm mét so với mực nước biển này quanh năm "khát nước". Con đường vòng qua thị trấn cứ nắng lên là bụi mịt mù.
Người dân sống nhờ vào nguồn nước tự nhiên lưu giữ ở các khe suối, nhà nào có điều kiện thì xây một bể chứa chừng vài mét khối để hứng nước mưa ăn dè quanh năm. Song, khi thời tiết chuyển sang mùa khô là các khe suối cạn kiệt, thời gian kéo dài ròng rã suốt 6 tháng trời (tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau). Những bể chứa nước mưa của một số gia đình trở thành bể "công cộng".
"Hàng xóm láng giềng tắt lửa tối đèn có nhau. Lúc khó khăn họ sang xin thùng nước nỡ nào không cho múc! Vậy rồi bể chứa cũng cạn khô. Cả thị trấn phải đi xa 4-5km mới mua được nước về nấu ăn, cơ cực lắm"- chủ một hộ dân có bể chứa lớn nói. Khó khăn quá, nhân dân vùng Bãi Trành nghĩ ra cách đào giếng, những cái giếng khơi vục âm xuống lòng đất 30m mới tìm thấy mạch nước ngầm. Ai cũng phấn khởi, nhưng hỡi ơi, nguồn nước tưởng như tinh khiết này lại bị nhiễm mặn, nhiễm sắt không thể sử dụng.
Nguyễn Hiệp Cường lúc này đang là Bí thư Chi đoàn thôn Nhà Máy, công nhân Nhà máy chè Bãi Trành. Sau mỗi ngày đi làm về, anh bóp trán suy nghĩ về vấn đề nước sinh hoạt cho dân địa phương, "Phải có cách nào đó để lưu giữ, dẫn nước từ các khe, mó về nhà" - người thanh niên bản tính cương trực, dám nghĩ dám làm đã mạnh dạn trình bày ý tưởng của mình với lãnh đạo cơ quan và chính quyền địa phương. "Các bác lãnh đạo chỉ nói: Cậu làm được việc này thì còn gì tốt hơn nữa, nếu thành công, nhà máy "thăng chức" cho cậu ngay. Nhưng thất bại thì tự cậu phải chịu lấy hậu quả, không ai chia sẻ đâu"- Cường kể lại.
Mó nước C1, rộng chừng 10m2, trữ lượng khoảng 100m3 là địa điểm Cường nhắm tới vì mó này ít khi bị cạn kiệt. Cái khó bây giờ là nguồn vốn. Cường nhớ ra khoản tiền dành dụm chuẩn bị cưới vợ đang cất kỹ bấy lâu. Cường nhớ lại: "Tối hôm đó, tôi định bụng sang nhà người yêu chơi nhân tiện bàn với bạn gái (bây giờ là vợ) tạm hoãn đám cưới lại. Ngồi gãi đầu, gãi tai mãi mà không dám thổ lộ khiến cô nàng thấy khác thường nên căn vặn. Cuối cùng tôi bảo: Hay là bọn mình hoãn đám cưới lại em. Tưởng tôi thay lòng đổi dạ, cô ấy phản ứng ngay lập tức rồi khóc thút thít than thân trách phận. Nhưng khi nghe giải thích rõ ngọn ngành bạn gái đã đồng ý".
Biết được ý định tốt của Cường, nhiều người trong phố đồng lòng ủng hộ, nhưng cũng có một số cá nhân cho rằng làm như vậy là liều lĩnh, có thể sẽ phải gánh chịu thất bại nặng nề. Cường quyết tâm làm, bước đầu anh mua gạch, ximăng kè lại mó C1, sắm đường ống dẫn nước. Cường biết gia đình ông Hoà ở cùng thôn có cái đầu máy xát cũ không dùng, anh đánh liều đến hỏi mượn để sửa chữa lại làm máy bơm.
Ông Hoà khiêng cái máy ra cho Cường mượn và cổ vũ cậu thanh niên có sáng kiến tốt đẹp. Không có tiền thuê lao động, Cường về quê tận Quỳnh Phụ (Thái Bình) thuyết phục 4 người em vào Thanh Hoá phụ giúp. 5 anh em Cường cặm cụi xây dựng suốt 5 tháng trời cải tạo mó nước, đặt trạm bơm, bể lọc, lắp đường ống dẫn nước dài hơn 1km. Công trình được đưa vào sử dụng, dòng nước lấy từ mó C1 đi theo đường ống đổ vào bể chứa đã mang lại nguồn sinh thủy sạch phục vụ cho khoảng 50 gia đình.
Vẫn còn trăn trở
Có hệ thống cấp nước rồi, ngày nào Cường cùng 4 người em cũng phải dậy từ lúc 4 giờ sáng, chia nhau đi rải đường ống nước bằng vải, đóng cầu dao điện, canh chừng máy bơm... đến 10 giờ đêm, khi tất cả những gia đình trong thị trấn tắt điện đi ngủ, anh Cường lại hì hục thu dọn đường ống.
Làm kiểu này được một thời gian Cường thấy vất vả quá không thể tiếp tục được, anh nghĩ ra cách chôn lấp đường ống để vừa chống được trộm lại vừa đỡ tốn công sức, nhưng làm được hệ thống cấp nước ngầm lại cần vốn đầu tư lớn, trong khi anh còn nợ nần bạn bè, hàng xóm láng giềng chưa trả được. Chẳng còn cách nào khác, Cường cầm theo "dự án nước" về quê trình với bố mẹ, họ hàng gia tộc để vay tiền. Gia đình anh thấy đứa con ham làm việc nghĩa nên ủng hộ hết mức. Tổng thể Cường phải vay của người thân 18 cây vàng.
Từ nguồn vốn trên, Cường đã biến các dự định thành hiện thực. Đầu tiên Cường xây tường bao quanh mó C1, dựng nhà bảo vệ trạm bơm bên bờ mó. Tiếp theo anh cải tạo bể lọc nước cũ có dung tích khoảng 60m3 của Nhà máy Chè để làm nơi lọc nước từ đầu nguồn dẫn về. Sau công đoạn khử trùng đạt tiêu chuẩn nước sạch, Cường cho bơm cấp đến từng hộ dân. Hệ thống 2 đường ống chính được chôn ngầm dọc theo 2 bên đường, hệ thống ống phụ tỏa đi các nhánh phục vụ cho từng cụm dân cư khoảng 5-7 hộ.
Năm 2002, công trình cấp nước của Cường cơ bản được hoàn thiện, từ thời điểm này cứ ở đâu có điện là ở đó bà con thị trấn Bãi Trành đều có nước sạch sinh hoạt. Trong 3 năm từ 2002 đến 2005 công trình của Cường đã cung cấp nước sạch ổn định cho khoảng 150 gia đình, tất cả các cơ quan, đơn vị hành chính. Cảnh Cường "liều" ngày nào phải vận quần cộc, áo mayô đi rải ống nước chấm dứt, nay anh ung dung ngồi ở nhà "vận hành" máy móc.
Hệ thống cấp nước đang vận hành trơn tru, thì năm 2005, thị trấn Bãi Trành phải giải phóng mặt bằng để thi công tuyến giao lộ ngang nối Khu kinh tế Nghi Sơn với đường Hồ Chí Minh. Toàn bộ hệ thống ống nước của Cường cũng bị đào xới lên. Xót xa cho công trình tâm huyết trong 6-7 năm trời xây dựng một phần, nhưng quan trọng hơn là nỗi trăn trở trước tình trạng người dân thiếu nước sinh hoạt liên tục gọi đến anh mỗi ngày. Thời điểm này, Cường đã phải gánh tổng số tiền nợ hơn 200 triệu đồng.
Bất đắc dĩ, Cường đành đến từng nhà xin bà con chung tay góp vốn để đầu tư cải tạo hệ thống cấp nước cho kịp với tiến độ thi công đường. Các hộ đều đồng lòng ủng hộ Cường, có gia đình còn "cắm" cả sổ đỏ lấy tiền cho Cường vay. Cường đầu tư mua đường ống mới bằng caosu. Các đơn vị thi công đường biết việc làm nhiều ý nghĩa của Cường nên tận tình giúp đỡ về tư vấn thiết kế, lắp đặt đường ống. Sau 2 tháng "đại tu", công trình cấp nước của Cường hoạt động trở lại. Mẫu nước được Trung tâm Y tế dự phòng huyện Như Xuân kiểm tra định kỳ đảm bảo tiêu chuẩn. Số hộ dân được cấp nước sạch với mức giá 5.000 đồng/m3 giờ đã tăng gấp đôi với hơn 300 gia đình.
Người dân phấn khởi nhưng Cường vẫn chưa vui, vẫn còn đó những trăn trở bởi hiện anh đang phải gánh khoản nợ khổng lồ lên đến gần 500 triệu đồng. Tháng 7 vừa qua UBND xã Xuân Bình (giáp ranh thị trấn Bãi Trành) thấy Cường có kinh nghiệm trong việc xây dựng, vận hành công trình nước đã quyết định giao cho Cường khai thác công trình nước sạch đập Đồng Cần (được đầu tư từ nguồn vốn của Chương trình 135).
Thế nhưng công trình này mới chỉ xây dựng hệ thống cấp nước nguồn, bể lọc, đường ống chính. Việc đưa nước sạch đến hộ dân đang gặp nhiều khó khăn vì chưa có hệ thống đường ống nhánh. Muốn vận hành đập Đồng Cấn cần đầu tư thêm khoảng 700 triệu đồng nữa. Chàng công nhân Nguyễn Hiệp Cường nói: "Tôi sẽ liều một phen nữa để công trình nước sạch Đồng Cần sớm được đưa vào phục vụ dân. Tôi mong nhận được sự giúp đỡ của một tổ chức tín dụng nào đó cho vay vốn với mức lãi suất ưu đãi".